"Vướng mắc trong việc thu phí thi hành án trên thực tế, khắc phục và thống nhất thực hiện" - Thực tiễn - Kinh nghiệm - Nghiên cứu - Trao đổi - Đồng Nghiệp
ĐỒNG NGHIỆP
Giao lưu - Trao đổi nghiệp vụ Thi hành án dân sự
Chủ nhật, 11-12-2016, 3:54 PM


Xin chào Khách | RSS
Trang chủ Nghiên cứu - Trao đổi Đăng ký Đăng nhập
Bạn sẽ được chuyển đến trang chủ trong

giây
Site menu

Đăng nhập

Lựa chọn chủ đề
Nghiên cứu - Trao đổi [1]
Thực tiễn - Kinh nghiệm [3]

Liên kế khác

Thống kê truy cập
Tổng số: Lượt xem

Tổng số online: 1
Khách: 1
Thành viên: 0

Trang chủ » Các bài viết » Thực tiễn - Kinh nghiệm

"Vướng mắc trong việc thu phí thi hành án trên thực tế, khắc phục và thống nhất thực hiện"

Tuy nhiên, so với yêu cầu thì công tác thi hành án dân sự ở nước ta còn bộc lộ nhiều bất cập, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của bản án, quyết định của Toà án đồng thời gây khó khăn cho chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án. Với yêu cầu đó, vận dụng các qui định của pháp luật và thực tiễn công tác, trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin đề cập vấn đề liên quan đến phí thi hành án. Tuy nhiên do còn hạn chế một số mặt khách quan cũng như chủ quan vì vậy cũng không tránh khỏi những thiếu xót nhất định trong nhận thức, mong được góp ý trao đổi.

Xuất phát từ tinh thần nêu cao trách nhiệm của các bên đương sự khi tham gia vào hoạt động thi hành án, Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật thi hành án đã quy định việc thu phí thi hành án dân sự.

Tuy nhiên qua một thời gian áp dụng trên thực tiễn thì vấn đề phí thi hành án dân sự cũng có một số điểm chưa hợp lý, cần khắc phục và thống nhất thực hiện theo những quy định mới của pháp luật.

I. KHÁI NIỆM VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ PHÍ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ.

1. Khái niệm

Để đưa ra được khái niệm Phí thi hành án dân sự thì chúng ta phải làm rõ những vấn đề sau:

- Phí là gì: Phí được hiểu là việc sử dụng dịch vụ hoặc được hưởng quyền và lợi ích theo quy định của pháp luật thì phải nộp một khỏan tiền nhất định.

- Thi hành án dân sự là gì: Là họat động do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành theo những thủ tục, trình tự nhất định nhằm đưa các Bản án, quyết định dân sự đã có hiệu lực thi hành của Tòa án ra để thi hành.

Từ những phân tích nêu trên, chúng ta đưa ra khái niệm về Phí thi hành án dân sự như sau:

Phí thi hành án dân sự là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định.

2. Cơ sở pháp pháp lý về phí thi hành án dân sự

Nhằm chia sẻ, giảm bớt gánh nặng Ngân sách Nhà nước để duy trì tổ chức và họat động của Cơ quan Thi hành án sân sự, nâng cao trách nhiệm của người đựơc thi hành án trong việc làm đơn yêu cầu thi hành án, Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã quy định Phí thi hành án tại Điều 60 " Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án”.

Sau khi Luật thi hành án dân sự năm 2008 có hiệu lực thi hành thì Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự về thủ tục thi hành án dân sự, trong đó có quy định về phí thi hành, cụ thể như sau:

Điều 33 quy định Mức phí, thủ tục nộp, quản lý và sử dụng phí thi hành án

Điều 34 quy định Những trường hợp không phải chịu phí thi hành án.

Ngoài ra còn có các văn bản liên quan khác như Pháp lệnh về phí và lệ phí, công văn số 135/TP-THA ngày 27 tháng 7 năm 2004; Nghị định số 57/2002/NĐ-CP ngày 03 tháng 6 năm 2002 của Chính Phủ….

II. MỘT SỐ TÌNH HUỐNG VƯỚNG MẮC TRÊN THỰC TẾ.

1.  Đối tượng nộp phí thi hành án.

Điều 60 Luật thi hành án quy định: Người được thi hành án phải nộp phí thi hành án dân sự. Điều 3 Luật thi hành án dân sự đã giải thích cụm từ " Phí thi hành án” là " khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định”. Theo đó, người được thi hành án phải nộp phí thi hành án đối với tất cả các khoản tiền, tài sản( có giá ngạch hay không có giá ngạch) khi nhận đựơc tiền, tài sản, tuy nhiên qua những gì được học trên lớp và trên thực tế khi áp dụng có một số vấn đề còn vướng mắc cần phân tích và làm rõ

Một là: Vấn đề thu phí thi hành án đối với trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được tiền, tài sản do cơ quan thi hành án ưu tiên thanh toán, cụ thể như sau:

        Bản án số 33/2008/DSST ngày 22 tháng 08 năm 2008  của Tòa án nhân dân huyện TP tuyên buộc bà Nguyễn Thị M phải trả cho bà Hùynh Thị Ngọc H số tiền 100.000.000đ và lãi suất nợ qúa hạn tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. Sau khi bản án có hiệu lực thi hành thì bà Hùynh Thị Ngọc H có đơn yêu cầu thi hành án yêu cầu bà Nguyễn Thị M phải trả số tiền và lãi chậm thi hành án theo quyết định của bản án. Qua xác minh, tài sản của bà M chỉ còn duy nhất một căn nhà và nền đất gắn liền căn nhà là có giá trị thi hành án. Tuy nhiên, tài sản này bà M đã thế chấp cho Ngân hàng NN&PTNT X để vay số tiền là 50.000.000 đồng từ tháng 07/2007 nhưng chưa có khả năng chi trả.. Sau đó, cơ quan thi hành án yêu cầu ngân hàng khởi kiện bà M nhưng ngân hàng NN&PTNT X không thực hiện. Qua khảo sát giá trị tài sản của bà M khoảng 400.000.000 đồng, cơ quan thi hành án tiến hành kê biên, định giá và phát mãi tài sản thu được số tiền 450.000.000 đồng vào ngày 24/09/2009.

Căn cứ theo Điều 90 Luật thi hành àn dân sự năm 2008 qui định về kê biên, xử lý tài sản đang cầm cố thế chấp; khoản 3 Điều 47 về thứ tự thanh toán, cơ quan thi hành án sẽ chi trả cho ngân hàng NN&PTNT X số tiền 50.000.000 đồng và lãi suất tương ứng, chi trả cho bà Ngọc H 100.000.000 đồng và lãi suất chậm thi hành án tương ứng; đồng thời ra quyết định thu phí thi hành án đối với bà Huỳnh Thị Ngọc H số tiền 3.257.000 đồng.

Căn cứ Điều 34 Luật thi hành àn dân sự năm 2008 quy định những trường hợp không phải nộp phí thi hành, thì Ngân hàng NN&PTNT X không thuộc trường hợp này.

Như vậy, trường hợp này cơ quan thi hành có được quyền thu phí thi hành án đối với ngân hàng NN&PTNT X hay không. Vì thông qua hoạt động thi hành án, cơ quan thi hành án đã thu được cho ngân hàng số nợ bà M đã thiếu. Mặc dù không có đơn yêu cầu thi hành án, nhưng ngân hàng lại hưởng lợi mà không phải thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào. Còn bà H phải nộp phí thi hành án trong khi cả hai người cùng buộc bà M phải trả nợ.     

Hai là: Thu phí thi hành án trong trường hợp chia tài sản thừa kế, ly hôn mà chỉ có một bên làm đơn yêu cầu thi hành án phần thanh tóan tiền, còn bên được nhận tài sản (nhà đất chẳng hạn) không làm đơn yêu cầu thi hành án. Đây một trong những vấn đề mà việc thu phí thi hành ở một số cơ quan Thi hành án dân sự ở địa phương còn vướng mắc, như tại bản án sau đây.

Theo nội dung quyết định của bản án số 520/2009/DSST ngày 10 tháng 09 năm 2009 của Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh D tuyên: Giao cho Anh Lê Trung T được sở hữu 01 căn nhà số 15 đường 3 tháng 2 phường QT, thành phố B, tỉnh D có diện tích 100,2m2 gắn liền với diện tích đất 100,2m2( hiện anh T đang quản lý sử dụng ) anh Lê Trung T phải thanh tóan  ½ giá trị tài sản là 750.000.000đ cho chị Lê Thị D. Sau khi bản án có hiệu lực thi hành thì chị Lê Thị D có đơn yêu cầu thi hành án số tiền 750.000.000đ đối với anh Lê Trung T. Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố B, tỉnh D báo gọi thì anh Lê Trung T đã nộp đủ số tiền 750.000.000đ thanh tóan cho cho Lê Thị D.

Căn cứ theo quy định của Thông tư liên tịch số 68/TTLT ngày 21 tháng 7 năm 2008, đối với việc chia tài sản chung, chia thừa kế; chia tài sản trong ly hôn; vụ việc mà các bên vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ đối với tài sản được thi hành án( chỉ cần một trong các bên có đơn yêu cầu thi hành án), người nhận tài sản phải nộp phí thi hành án tương ứng với giá trị  tài sản thực nhận tính trên tổng số tiền phí thi hành án phải nộp của các bên.

Theo đó, người phải nộp phí thi hành gồm có: Chị Lê Thị D và anh Lê Trung T. Tuy nhiên, trên đây là những quy định của pháp luật đã không còn hiệu lực để tổ chức thi hành, nếu áp dụng thì không phù hợp, vì Luật thi hành án dân sự năm 2008 chưa cụ thể hoá được việc thực hiện thu phí thi hành án trong trường hợp này. Hơn nữa, việc cơ quan thi hành án tiến hành thu phí thi hành án đối với người nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định là đúng nhưng không thể tổ chức thi hành trên thực tế. Vì trong trường hợp nêu trên, anh T về mặt hình thức, được sở hữu ½ giá trị căn nhà, đang chiếm hữu và sử dụng tài sản này, nhưng về mặt nội dung, anh phải có nghĩa vụ chia thừa kế cho chị D ½ giá trị căn nhà.là 750.000.000 đồng. Cơ quan thi hành án chưa thực hiện bất kỳ một biện pháp nghiệp vụ nào để bảo đảm cho quyền được sở hữu và sử dụng tài sản của anh T, bản thân anh T cũng không có yêu cầu cơ quan thi hành án phải bảo đảm cho anh các quyền đó, lý do bản án đã bảo đảm cho anh rồi, tài sản anh được nhận là hợp pháp. Như vậy, rất khó để buộc anh T nộp phí thi hành án. Mặc dù theo quy định của Pháp luật, cụ thể tại khoản 2 Điều 33 Nghị định 58/NĐ-CP ngày 13 tháng 7 năm 2009 có quy định " người được thi hành án không nộp phí thi hành án thì cơ quan thu phí có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành án, bao gồm cả việc bán đấu giá tài sản đã giao cho người được thi hành án để bảo đảm thu hồi tiền phí thi hành án”.  Nhưng khi ta tổ chức cưỡng chế thì rất khó thuyết phục được những người xung quanh việc cưỡng chế của ta là đúng, là hợp tình hợp lý.

      Nên chăng, theo chúng tôi trong trường hợp này, ta chỉ thu phí khi Luật thi hành án có quy định chi tiết, cụ thể. Vì bản thân của quy định trên là nhằm tăng cường ý thức tự nguyện thi hành bản án, quyết định của toà án giữa những người có quyền lợi và nghĩa vụ song trùng. Anh T có quyền nhưng anh không thực hiện nghĩa vụ thì làm sao đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo cho quyền lợi của chị D. Cũng có thể, do trình độ hiểu biết về pháp luật của anh T kém nên anh không biết việc tự nguyện thi hành bản án, quyết định của toà án là quyền lợi của mình. Do đó, cần thiết có văn bản hướng dẫn thi hành Điều 60 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 một cách chi tiết hơn, rõ ràng hơn.

 Ba là: Có nên thu phí thi hành án phần lãi suất chậm thi hành án.hay không, vì theo Điều 60 Luật thi hành án, chỉ quy định người được thi hành án phải nộp phí thi hành án. Phần lãi chậm thi hành án là một chế tài dân sự để làm công cụ răn đe, giáo dục người phải thi hành án tự nguyện thi hành án. Tuy nhiên, việc kéo dài thời gian thi hành án không phải do lỗi chủ quan của người phải thi hành án, có thể họ đang lâm vào hoàn cảnh khó khăn, không thể thực hiện nghĩa vụ thi hành án ngay được, hoặc là họ có tài sản nhưng tài sản này là duy nhất, phải trải qua nhiều thủ tục chặt chẽ mới có thể xử lý được, thì thời gian kéo dài việc thi hành án không phải là lỗi của họ. Cho thấy, chế tài được áp dụng mang tính răn đe, giáo dục nhưng từ việc áp dụng chế tài để thu được một khoản tiền, ta lại thu phí thi hành án. Vậy có thích hợp hay không, khi ta thu phí thi hành án thì mục đích răn đe, giáo dục đương sự tự nguyện thi hành án của chế tài có còn mang ý nghĩa vốn có của nó không, phần lãi suất chậm thi hành án là rất nhỏ so với giá trị phải thi hành án, có thể xem đây là một trong những cách thức để bù đắp những tổn thất về mặt tinh thần cho người đựoc thi hành án. Họ phải trãi qua một quá trình gian nan để chứng minh cho yêu cầu của mình là chính đáng, phù hợp với những quy định của pháp luật tại các cơ quan có thẩm quyền( UBND cấp xã, Toà án; Trọng tài thương mại; Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh…). Nhưng đến giai đoạn thi hành án lại chưa được nhận ngay những lợi ích chính đáng của họ, khiến họ cảm thấy bức xúc, dẫn đến tình trạng khiếu nại cơ quan thi hành án chậm thi hành án. Nhưng nếu ta không thu phí đối với phần lãi suất chậm thi hành án, ta có thể giải thích cho họ việc kéo dài thời gian thi hành án không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ, cụ thể họ sẽ được nhận tiền lãi chậm thi hành án, tương tự như họ gửi tiết kiệm không kỳ hạn vậy. Có trường hợp cụ thể như sau:

Bản án số 99/2009/DSST ngày 07 tháng 8 năm 2008 của Tòa án nhân dân huyện VL tuyên buộc ông Ngô Văn K phải trả nợ cho bà Trương Thị N số tiền 20.000.0000đ. Cơ quan thi hành án huyện VL thụ lý theo đơn yêu cầu thi hành án của bà N. Hết thời gian tự nguyện thi hành án nhưng ông K vẫn chưa thi hành dứt điểm nghĩa vụ thi hành án. Qua xác minh, chấp hành viên phát hiện ông K chỉ có tài sản duy nhất là 01 căn nhà cấp 4 gắn liền trên diện tích 45 m2 thổ cư toạ lạc tại huyện VL. Bản thân ông K không nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Do đó, Chấp hành viên quyết định kê biên phát mãi tài sản của ông K để đảm bảo thi hành án. Qua hai lần giảm giá và bán đấu giá, thì tài sản của ông mới được xử lý xong, thu đựoc tiền để chi trả cho bà N. Thời gian kết thúc việc thi hành án kéo dài trong 12 tháng. Số tiền lãi suất chậm thi hành án phát sinh ước tính khoảng 2.400.000 đồng. Nhưng từ khi bà N khởi kiện ông K để yêu cầu ông K trả nợ cho mình khoảng hơn ba năm( từ khóm, ấp đến cấp xã, cấp xã đến cấp huyện). Như vậy, thực tế nếu bà N nhận được số tiền lãi này thì cũng không đủ để bù đắp những tổn thất về mặt kinh tế, tinh thần của mình trong thời gian theo đuổi vụ kiện và thi hành án.

2. Biện pháp thu phí Thi hành án dân sự.

   Việc thu phí và nộp phí thi hành án theo quy định của Luật tthi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản pháp luật có liên quan. Tuy nhiên trong qúa trình nghiên cứu cũng như trên thực tế việc thu phí thi hành án cũng còn vướng mắc sau đây:

 Trong các trường hợp nguời được thi hành từ bỏ quyền và lợi ích mà họ được hưởng theo khỏan 1 điều 50 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sau khi có quyết định cưỡng chế thi hành án mà tự nguyện nộp phí thi hành án theo quy định thì là điều thuận lợi đối với co quan thi hành án thu phí. Tuy nhiên nếu người được thi hành từ bỏ quyền lợi và rút đơn yêu cầu thi hành án sau khi có quyết định cưỡng chế thi hành án mà không tự nguyện nộp phí thi hành án, qua xác minh được biết người được thi hành án không có khả năng nộp phí thi hành án, vậy vấn đề này phải giải quyết như thế nào để hòan tất thủ tục theo quy định của pháp luật. Đây là vấn đề tuy không phải là lớn lắm nhưng cũng rất khó giải quyết gây vướng mắc cho các cơ quan thi hành án dân sự mỗi khi gặp phải trên thực tế, cụ thể được thể hiện trong bản án sau:

Theo nội dung bản án số 20/DSST ngày 15 tháng 7 năm 2009 của Tòa án nhân dân thành phố BH, tỉnh ĐN tuyên ông Lý Nguyên B phải trả cho ông Hoàng Văn L số tiền 79.000.000đ, trong quá trình giải quyết thi hành án do ông Lý Nguyên B không tự nguyện thi hành vì vậy Cơ quan Thi hành án đã kê biên tài sản là nhà và đất của ông Lý Nguyên B tương đương với số tiền phải thi hành án cho ông Hoàng Văn L, sau khi cơ quan Thi hành án kê biên nhà đất của ông Lý Nguyên B thì ông Hoàng Văn L có đơn không yêu cầu thi hành án số tiền 79.000.000đ đối với ông Lý Nguyên B, đơn của ông Hoàng Văn L có xác nhận của UBND xã H và gửi qua đường Bưu điện đến cơ quan Thi hành án dân sự. Qua xác minh tại địa phương thì được biết ông Hoàng Văn L đã bán nhà và chuyển đi nơi khác, tại địa phương không có tài sản gì. Vấn đề đặt ra ở đây là cách giải quyết thu phí trong trường hợp này như thế nào, có chấp nhận đơn không yêu cầu thi hành án của ông Hoàng Văn L không, có đình chỉ thi hành án đối với ông Lý Nguyên B không, làm thế nào để hòan tất hồ sơ đình chỉ thi hành án. Đây là vấn đề khá mới mẻ và pháp luật chưa có quy định điều chỉnh trường hợp này.

III. KIẾN NGHỊ.

1 Kiến nghị:

 Để tạo điều kiện thuận lợi cho Cơ quan Thi hành án dân sự, động viên khích lệ người được thi hành án tự nguyện nộp phí thi hành án, tạo tính công bằng cho xã hội, tạo hành lang pháp lý rõ ràng trong vấn đề thu phí thi hành án dân sự, qua phân tích một số tình huống có trên thực tế thường gặp tại địa phương. Chúng tôi xin có một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất: Đối với trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhận được tiền, tài sản thông qua quá trình thi hành án thì họ phải nộp phí thi hành án. Việc quy định như vậy nhằm tạo nên sự bình đẳng trước pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người phải thi hành án, người được thi hành án và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Dù người có quyền lợi, nghãi vụ liên quan có làm đơn yêu cầu thi hành án hay không, nhưng cơ quan thi hành án đã tổ chức thi hành bản án mà trong đó, họ được hưởng quyền và lợi ích thì họ phải nộp phí thi hành án.

 Thứ hai: Thu phí thi hành trong trường hợp chia tài sản trong bản án ly hôn, chia thừa kế. Theo Tôi cơ quan thi hành án dân sự chỉ thu phí thi hành đối với bên nào có đơn yêu cầu thi hành án và thu phí thi hành trên tổng giá trị tài sản mà người đó thực nhận theo quy định tại điều 60 Luật thi hành án dân sự năm 2008, còn đối với bên nào không có đơn yêu cầu thi hành án thì không thu phí bởi vì bản chất của việc thu phí thi hành án là người được thi hành án yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án mà trong đó người được thi hành án được hưởng quyền và lợi ích thì mới phải chịu phí thi hành án, mặt khác việc thu phí như vậy cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan Thi hành án dân sự thuận tiện trong việc thu phí thi hành án vì lúc đó đã gắn quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án với Cơ quan Thi hành dân sự.

Thứ ba: Đối với khỏan tiền lãi suất chậm thi hành án mà cơ quan thi hành  án thu được và chi trả cho người được thi hành án, ta không nên thu phí thi hành án và nên xem như tiền bồi thường tổn thất về kinh tế, tinh thần của người được thi hành án.

Thứ tư: Đối với trường hợp người được thi hành án tư bỏ quyền và lợi ích được hưởng theo khỏan 1 điểm C Điều 50 Luật thi hành án dân sự năm 2008 sau khi cơ quan thi hành án dân sự đã có quyết định cưỡng chế thi hành án mà người được thi hành án cố tình không tự nguyện nộp phí thi hành án, qua xác minh người được thi hành án không co khả tài sản đê cưỡng chế thu phí thi hành án, theo tôi trường hợp này vẫn ra quyết định đình chỉ thi hành đối với nguời phải thi hành án để đảm bảo quyền lợi cho người được thi hành án vì giữa người được thi hành án và người phải thi hành là một mối quan hệ riêng biệt, còn giữ người được thi hành và cơ quan thi hành trong vấn đề thu phí thi hành án là một mối quan hệ khác, còn việc chưa thu được phí của người được thi hành theo tôi nên ghi nhận và có quyền đề nghị với các cơ quan hữu xử lý người được thi hành về hành vi trốn phí. 

   2. Bàn luận và Mở rộng:

Qua việc đưa ra những kiến nghị cho thấy những quy định của Luật thi hành án dân sự tại Điều 60 đã khắc phục được phần lớn những vướng mắc trong việc thu phí thi hành án. Chẳng hạn, Luật quy định rất rõ ràng về đối tượng phải nộp phí thi hành án là người được thi hành án, mức phí phải nộp là 3% trên số tiền hoặc tài sản thực nhận nhưng tối đa không vượt quá 200 triệu đồng/01 đơn yêu cầu thi hành án, thủ tục tục thu nộp phí thi hành án ...Tuy vậy, theo tôi, để thống nhất thực hiện theo điều 60 Luật thi hành án dân sự năm 2008, cần phải hướng dẫn những nội dung sau:

Một là, các văn bản hướng dẫn thi hành án phải làm rõ như thế nào là " được thi hành án”. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan luôn được thi hành án như trường hợp của Ngân hàng NN&PTNT, lại không phải là đối tượng phải nộp phí thi hành án. Vô hình chung Ngân sách nhà nước bị thất thu một khoản phí thi hành án không nhỏ. Vì hiện tại, tình trạng người dân đem giấy CNQSDĐ và GCNQSH nhà ở thế chấp cho ngân hàng( không phải là ngân hàng chính sách xã hội) để vay tiền là rất lớn.

Hai là, các văn bản hướng dẫn cần quy định bắt buộc đối với người được thi hành án trong các việc giao tài sản phải nộp trứơc tiền phí thi hành án trong thời hạn thích hợp. Có như vậy, khi cơ quan thi hành án tổ chức cưỡng chế giao tài sản xong thì có thể xếp ngay hồ sơ, không phải nhọc công thu tiền phí thi hành án của người được thi hành án.

Ba là, kịp thời quy định thủ tục thu, nộp, miễn, giảm, quản lý, sử dụng phí thi hành án để các cơ quan thi hành án thực hiện một cách thống nhất Điều 60 của Luật thi hành án dân sự năm 2008.

IV. Kết luận:

Vấn đề thu phu phí thi hành án còn một vài điểm bất cập như đã phân tích ở trên, tuy nhiên việc quy định thu phí thi hành án là một điểm hòan toàn mới trong Luật thi hành án dân sự năm 2008 so với các văn bản pháp luật trước đây quy định về phí thi hành án và cũng là một bước tiến bộ trong công tác thi hành án nhằm mục đích giảm bớt gánh nặng Ngân sách nhà nước cho họat động của hệ thống cơ quan Thi hành án, hỗ trợ một phần cho kinh phí hoạt động của cơ quan thi hành án, nâng cao trách nhiệm của người được thi hành án khi làm đơn yêu cầu thi hành án.


Nguyễn Linh Giang

Thể loại: Thực tiễn - Kinh nghiệm | Người gởi: giangdni (08-06-2010)
Lượt xem: 3337 | Từ khóa: Phí thi hành án, bản án, Luật thi hành án | Đánh giá: 4.0/3
Tổng số bình luận: 0
Chỉ thành viên mới có quyền bình luận.
[ Đăng ký | Đăng nhập ]
Thiết kế bởi Giangdni © 2016
Powered by uCoz